Estrogen

  • gplus
  • pinterest


THÔNG TIN VỀ THÀNH PHẦN: ESTROGEN

Tên khác:
Estrogens

Thành phần:
Estrogen

Tác dụng:
Estrogen liên hợp là 1 hỗn hợp natri estron sulfat và natri equilin sulfat, dẫn xuất hoàntoàn hoặc 1 phần từ nước tiểu ngựa hoặc được tổng hợp từ estron và equilin.

Estrogen liên hợp chứa các chất estrogen khác thuộc loại do ngựa cái có thai bài tiết.

Estrogen liên hợp có tác dụng và dùng như estradiol và estron. Thuốc kích thích tế bào tăng trưởng ở màng trong tử cung, như vậy có thể có một yếu tố nguy cơ nếu có tế bào ung thư.

Thuốc ngăn cản tiêu xương, duy trì khối xương và giảm nguy cơ tim mạch bằng cách tăng nồng độ lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) trong huyết thanh và giảm nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) ở phụ nữ mãn kinh.

Tác dụng của thuốc đối với đông máu còn chưa rõ.

Chỉ định:
- Các triệu chứng vận mạch vừa phải cho tới nghiêm trọng đi kèm với thiếu hụt estrogen. 
- Ngăn ngừa và xử lý chứng loãng xương đi kèm với thiếu hụt estrogen. 
- Giảm nguy cơ bệnh mạch vành và tỷ lệ bệnh tim mạch ở những phụ nữ mãn kinh. 

Quá liều:
Hàng loạt báo cáo về việc trẻ em uống liều lớn các loại thuốc tránh thai có chứa estrogen cho thấy những tác hại nghiêm trọng chưa được phát hiện. Dùng quá liều estrogen có thể gây buồn nôn, và hiện tượng xuất huyết khi ngưng thuốc có thể xảy ra ở nữ giới.

Chống chỉ định:
- Ðã biết hoặc nghi ngờ có ung thư vú.

- Ðã biết hoặc nghi ngờ có ung thư phụ thuộc estrogen.

- Có thai hoặc nghi ngờ có thai.

- Xuất huyết cơ quan sinh dục bất thường chưa chẩn đoán được.

- Viêm tĩnh mạch huyết khối hay có các bệnh huyết khối tắc mạch.

- Quá mẫn đối với bất kỳ thành phần nào của viên Estrogen.

Tác dụng phụ:
Những phản ứng bất lợi nhất đi kèm với việc sử dụng estrogen được trình bày ở phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng. Những phản ứng bất lợi dưới đây của điều trị estrogen đã được ghi nhận:

Hệ niệu-sinh dục: Xuất huyết giữa chu kỳ, thay đổi lượng kinh nguyệt, mất kinh.

Vú: Dễ bị đau ,to ra, tiết dịch.

Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn mửa; co thắt bụng, chướng bụng; vàng da tắc mật.

Da: Nám da hay sạm da, có thể vẫn còn cả khi ngừng dùng thuốc, rụng lông tóc, nổi ban.

Mắt: Làm thay đổi độ cong giác mạc; không dung nạp kính tiếp xúc.

Hệ thần kinh trung ương: Nhức đầu, migraine, chóng mặt, múa giật.

Khác: Tăng hoặc sụt cân; phù; thay đổi libido, làm nặng thêm loạn chuyển hóa porphyrin.

Thận trọng:
Tiền sử gia đình và bệnh án đầy đủ cần phải có trước khi dùng bất kỳ liệu pháp estrogen nào. Những cuộc khám thực thể trước khi điều trị và định kỳ cần phải chú ý đến huyết áp, vú, bụng và các cơ quan vùng chậu và nên làm cả phết tế bào âm đạo.

Bệnh nhân còn tử cung cần được theo dõi ít nhất là hàng năm về những dấu hiệu của bệnh tăng sản hay ung thư nội mạc tử cung. Ở những phụ nữ còn tử cung không dùng kèm progestogen, việc theo dõi cần có cả sinh thiết nội mạc tử cung.

Một vài bệnh nhân có thể có những biểu hiện không chờ đợi do sự kích thích quá mức của estrogen như xuất huyết tử cung bất thường hay quá nhiều, đau vú, v.v. Trong trường hợp xuất huyết âm đạo bất thường, các biện pháp chẩn đoán thích hợp, kể cả sinh thiết nội mạc tử cung có khi chỉ định, cần được tiến hành để loại trừ bệnh ác tính. Khi không tìm thấy nguyên nhân bệnh lý, việc giảm liều lượng hay chu kỳ điều trị có thể được chỉ định.

U cơ trơn tử cung từ trước có thể to ra trong khi dùng estrogen.

Phụ nữ đang điều trị estrogen thay thế chưa có trường hợp nào được báo cáo là tăng nguy cơ bệnh huyết khối tắc mạch và/hay viêm tĩnh mạch huyết khối. Tuy nhiên, không có đủ thông tin về những phụ nữ có tiền sử bệnh huyết khối tắc mạch để xác định nguy cơ mắc bệnh.

Không có đủ bằng chứng cho rằng estrogen có hiệu quả đối với các triệu chứng thần kinh hay trầm cảm có thể xuất hiện trong thời kỳ mãn kinh và không được dùng estrogen để điều trị những chứng bệnh như vậy.

Nếu có thể được, nên ngừng dùng estrogen ít nhất 4 tuần trước khi phẫu thuật các bệnh có nguy cơ mắc bệnh huyết khối tắc mạch cao, hay trong thời gian bất động kéo dài.

Do estrogen có thể gây ra sự giữ nước ở mức độ nào đó, những bệnh có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố này như hen, động kinh, migraine, và rối loạn chức năng tim hay thận đòi hỏi phải theo dõi cẩn thận.

Estrogen có thể được chuyển hóa kém ở những bệnh nhân suy gan và cần phải dùng một cách cẩn thận ở những bệnh nhân này.

Estrogen phải được dùng một cách cẩn thận ở những bệnh nhân có bệnh xương chuyển hóa đi kèm với chứng tăng canxi huyết.

Các bệnh nhân cần được cho biết rằng việc có kinh nguyệt trở lại khi dùng liệu pháp estrogen thay thế ở những phụ nữ mãn kinh không phải là dấu chỉ của khả năng sinh đẻ.

Estrogen không phải là thuốc tránh thai. Phụ nữ còn khả năng có con mong muốn tránh thai cần được hướng dẫn để tìm đến các biện pháp tránh thai phi hormone.

LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ

Lúc có thai:

Estrogen không được dùng trong thời gian mang thai. Dùng estrogen trong khi mang thai đi kèm với tăng nguy cơ mắc khuyết tật bẩm sinh ở các cơ quan sinh sản của thai nhi nam và nữ, tăng nguy cơ bị hạch âm đạo, loạn sản tế bào sừng của cổ tử cung, và ung thư âm đạo sau này ở phụ nữ.

Không có chỉ định dùng estrogen khi mang thai. Estrogen không có tác dụng trong việc phòng ngừa hay điều trị dọa sẩy thai hay sẩy thai thường xuyên.

Lúc nuôi con bú:

Nguyên tắc chung là việc chỉ định bất cứ loại thuốc gì cho các bà mẹ cho con bú chỉ khi nào thật cần thiết vì nhiều loại thuốc được bài tiết vào sữa mẹ.

CHÚ Ý ÐỀ PHÒNG

Liệu pháp estrogen không bổ sung thêm progestogen ở những phụ nữ còn tử cung được báo cáo là làm tăng nguy cơ tăng sản nội mạc tử cung/carcinoma. Nguy cơ này dường như phụ thuộc vào thời gian điều trị và liều lượng estrogen. Bệnh nhân cần được tái đánh giá ít nhất là hàng năm. Các nghiên cứu đã chỉ ra sự giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung khi một progestogen được dùng kèm với điều trị thay thế estrogen. Có thể có những nguy cơ khác đi kèm với việc đưa progestogen vào chế độ điều trị thay thế hormone. Các nguy cơ này bao gồm những tác dụng bất lợi đến sự chuyển hoá carbonhydrate và lipid. Sự lựa chọn progestogen có thể có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những nguy cơ này.

Nguy cơ bệnh túi mật tăng lên ở những phụ nữ dùng estrogen sau khi mãn kinh đã được ghi nhận.

Một vài nghiên cứu đã đưa ra một tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú có thể tăng lên ở những phụ nữ dùng estrogen thay thế với liều cao hơn trong thời gian dài. Tuy nhiên đa số các nghiên cứu không chỉ ra được sự liên quan của bệnh ung thư vú với liều lượng estrogen thường được sử dụng trong liệu pháp estrogen thay thế. Những phụ nữ theo chế độ điều trị này nên được khám vú định kỳ và cần được hướng dẫn để tự khám vú.

Liều lượng Estrogen sử dụng không được vượt quá liều lượng chỉ định.

Tương tác thuốc:
Rifampin được ghi nhận làm giảm hoạt động estrogenic khi dùng kèm với estrogen. Tác dụng này được cho là do làm tăng sự chuyển hóa estrogen, có lẽ do tạo ra các enzyme tiểu thể gan.

Dược lực:
Dược lý lâm sàng:

Các estrogen có vai trò quan trọng trong sự phát triển và duy trì hệ niệu-sinh dục và các đặc điểm sinh dục thứ phát của nữ giới. Chúng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của âm đạo, tử cung, vòi trứng, và làm vú phát triển. Chúng gián tiếp góp phần vào sự hình thành khung xương, duy trì trương lực và tính đàn hồi của cơ quan niệu-sinh dục, vào những thay đổi ở đầu của xương dài diễn ra khi bắt đầu và khi kết thúc sự tăng trưởng tuổi dậy thì, mọc lông nách và lông mu, và làm sậm màu núm vú và các mô sinh dục. Sự sụt giảm hoạt động estrogenic và progestogenic của buồng trứng vào cuối chu kỳ kinh nguyệt có thể tạo ra kinh nguyệt, mặc dù sự ngừng tiết ra progesterone là yếu tố quan trọng nhất trong chu kỳ kinh nguyệt có rụng trứng. Tuy nhiên, trong chu kỳ trước rụng trứng hay không rụng trứng, estrogen là yếu tố quyết định chủ yếu trong việc tạo ra kinh nguyệt. Estrogen còn ảnh hưởng đến sự tiết hormone hướng sinh dục của tuyến yên.

Tác dụng dược lý của các estrogen liên hợp tương tự như tác dụng của các estrogen nội sinh. Trong các mô đích (các cơ quan niệu-sinh dục nữ, vú, hạ đồi, tuyến yên) estrogen xâm nhập vào tế bào và được chuyển đến nhân tế bào. Sự tổng hợp RNA và protein đặc hiệu xảy ra là nhờ tác dụng của estrogen.

Việc uống Estrogen đối với phụ nữ mãn kinh làm tăng lượng cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) và làm giảm lượng cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C). Nó cải thiện tình hình lipid trong máu và được ghi nhận như một tác nhân tạo nên những tác dụng có lợi của Estrogen trên nguy cơ bệnh tim mạch ở những phụ nữ mãn kinh.

Các estrogen liên hợp tan trong nước và được hấp thu tốt từ đường tiêu hoá. Sự chuyển hoá và bất hoạt xảy ra chủ yếu ở gan. Một vài estrogen được thải ra ở mật; tuy nhiên chúng được hấp thụ lại từ ruột non và quay trở lại gan thông qua hệ thống tĩnh mạch cửa. Các estrogen dạng liên hợp mang tính acid mạnh và được ion hóa trong các dịch cơ thể, điều này giúp cho sự đào thải qua thận do việc tái hấp thu tại ống thận rất nhỏ.

Tác dụng lâm sàng:

Các triệu chứng vận mạch đi kèm với sự thiếu hụt estrogen:

Cơn bốc hỏa (cảm giác nóng bừng ở thân trên và mặt, làm đỏ da và đổ mồ hôi) xảy ra ở 80% phụ nữ mãn kinh là kết quả của sự thiếu hụt các hormone buồng trứng. Các triệu chứng này được thấy ở những phụ nữ mãn kinh do phẫu thuật hay mãn kinh tự nhiên. Tuy nhiên, những cơn bốc hỏa có thể nghiêm trọng hơn ở phụ nữ mãn kinh do phẫu thuật. Những cơn bốc hỏa có thể xảy ra trước khi mãn kinh. Những nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, kiểm chứng bằng placebo đã khẳng định sự giảm đáng kể những cơn bốc hỏa ở những phụ nữ mãn kinh dùng Estrogen.

Chứng loãng xương đi kèm với sự thiếu hụt estrogen:

Ðiều trị thay thế estrogen là phương pháp duy nhất có hiệu quả để ngăn ngừa chứng loãng xương (giảm khối lượng xương) ở những phụ nữ mãn kinh. Estrogen làm giảm sự tiêu xương và làm chậm lại hay tạm ngừng quá trình mất xương khi mãn kinh. Các nghiên cứu kiểm tra-trường hợp cho thấy giảm được tới 60% trường hợp gãy cổ xương đùi và xương cổ tay ở những phụ nữ đã bắt đầu dùng estrogen thay thế trong vòng vài năm sau khi mãn kinh. Các nghiên cứu còn cho rằng estrogen làm giảm tỷ lệ gãy xương sống. Một nghiên cứu lâm sàng cho thấy thậm chí cả khi estrogen thay thế được bắt đầu muộn tới 15 năm sau khi mãn kinh, sự mất xương cũng được ngăn chặn nhưng không thấy có sự phục hồi xương. Hiệu quả của việc bảo vệ xương chỉ được duy trì chừng nào việc điều trị bằng estrogen liên hợp còn được tiếp tục. Các nhóm dân tộc khác nhau có nguy cơ loãng xương khác nhau.

Lợi ích về tim mạch:

Các nghiên cứu kiểm tra-trường hợp, đoàn hệ và có chụp mạch máu đã được thực hiện nhằm khảo sát sự liên quan giữa điều trị estrogen đường uống sau mãn kinh và bệng tim mạch. Ða số các nghiên cứu cho thấy nguy cơ bệnh tim mạch giảm xuống ở những phụ nữ mãn kinh dùng liệu pháp thay thế estrogen. Một phân tích các số liệu cho thấy có sự giảm khoảng 50% nguy cơ bệnh tim mạch nơi phụ nữ được điều trị bằng estrogen liên hợp. Trong đa số những nghiên cứu này, estrogen liên hợp là phương pháp trị liệu chủ đạo. Hiệu quả có lợi này có vẻ liên quan đến nhiều cơ chế tác dụng có lẽ không chỉ giới hạn ở những tác dụng có lợi đến lipid và liporotein và tác dụng trực tiếp đến mạch vành. Mặc dù có báo cáo cho rằng việu điều trị bằng progestogen có thể làm giảm bớt tác dụng có lợi của estrogen trên lipid, tác dụng tổng quát đối với bệnh tim mạch vẫn còn chưa rõ.

Nên sử dụng estrogen liên hợp cùng với những biện pháp quan trọng khác như thay đổi chế độ ăn, thể dục, và ngừng hút thuốc lá để đạt lợi ích tối đa về tim mạch.

Viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo đi kèm với sự thiếu hụt estrogen:

Khi thiếu sự kích thích của estrogen, các mô âm đạo và âm hộ teo lại, các thành âm đạo trở nên mỏng và khô, và các nếp gấp biến mất. Dễ bị đau và ngứa, kèm theo là tiểu khó và giao hợp đau. Việc giao hợp có thể gây nên nứt và loét với xuất huyết điểm hoặc xuất huyết thật sự. Những biến đổi này có thể phục hồi được bằng cách điều trị thay thế estrogen.

Chứng giảm estrogen huyết ở phụ nữ:

Ðiều trị thay thế estrogen được chỉ định đối với chứng giảm estrogen huyết liên quan đến sự giảm năng tuyến sinh dục nữ hay suy buồng trứng tiên phát. Suy buồng trứng tiên phát bắt đầu sớm sẽ khiến các đầu xương chậm khép lại và ngăn trở sự trưởng thành của xương. Sự thiếu hụt estrogen lâu dài thường dẫn đến chứng loãng xương (về tác dụng của điều trị thay thế estrogen xin xem phần loãng xương). Ðiều trị estrogen thường đi kèm với sự xuất hiện những đặc điểm của phái nữ ởnhững bệnh nhân này.

Dược động học:
Thuốc hoà tan trong nước và được hấp thu tốt qua đường tiêu hoá.

Chuyển hoá chủ yếu trong gan, một số chất chuyển hoá trở lại tuần hoàn ruột gan. Estrogen liên hợp tan trong nước, có tính chất acid mạnh và ion hoá trong dịch cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho thuốc bài tiết qua thận, vì tái hấp thu tối thiểu ở ống thận.

Cách dùng:
Dùng Estrogen có thể liên tục (nghĩa là không nghỉ trong thời gian điều trị) hoặc theo chu kỳ (ba tuần dùng và một tuần nghỉ).

Liều dùng thấp nhất có hiệu quả nên được chỉ định.

Sử dụng kèm Progestogen: Việc bổ sung thêm progestogen trong khi dùng estrogen làm giảm nguy cơ tăng sản và ung thư nội mạc tử cung đi kèm với việc sử dụng estrogen đơn thuần. Những nghiên cứu hình thái học và sinh hóa về nội mạc tử cung gợi ý rằng một liều lượng progestogen đầy đủ cho ít nhất 10-14 ngày trong mỗi chu kỳ sẽ làm giảm đáng kể những biến đổi tăng sản nội mạc. Do progestogen được chỉ định nhằm giảm nguy cơ biến đổi tăng sản nội mạc, bệnh nhân không còn tử cung không cần dùng progestogen cho mục đích này.

Phạm vi liều dùng thông thường:

Triệu chứng vận mạch, viêm teo âm đạo và viêm teo niệu đạo do thiếu estrogen: 0,3-1,25mg/ngày. Những phụ nữ thiếu estrogen đang được điều trị cho những triệu chứng này cần được tái khám định kỳ (3-6 tháng).

Chứng loãng xương: 0,625mg/ngày. Liều lượng này là cần thiết cho việc giữ khối lượng xương.

Tác dụng tốt cho hệ tim mạch: 0,625-1,25mg/ngày.

Chứng giảm estrogen huyết ở phụ nữ: 0,3-1,25mg. Liều lượng được điều chỉnh dựa trên mức độ nặng của triệu chứng và sự đáp ứng của nội mạc tử cung. Liều lượng 0,15mg đã được sử dụng cho các thiếu nữ và thúc đẩy sự phát triển các đặc điểm sinh dục thứ phát của phái nữ. Liều dùng nên được điều chỉnh riêng cho từng người nhằm đạt được sự đáp ứng tối ưu của bênh nhân.

Mô tả:


Bảo quản:
Giữ ở nhiệt độ trong phòng, khoảng 25 độ C

Estrogen Estrogen Product description: - Các triệu chứng vận mạch vừa phải cho tới nghiêm trọng đi kèm với thiếu hụt estrogen. <div>- Ngăn ngừa và xử lý chứng loãng xương đi kèm với thiếu hụt estrogen. <div>- Giảm nguy cơ bệnh mạch vành và tỷ lệ bệnh tim mạch ở những phụ nữ mãn kinh.  Estrogen TG245


Estrogen


- Cac trieu chung van mach vua phai cho toi nghiem trong di kem voi thieu hut estrogen. <div>- Ngan ngua va xu ly chung loang xuong di kem voi thieu hut estrogen. <div>- Giam nguy co benh mach vanh va ty le benh tim mach o nhung phu nu man kinh. 
RẤT NHIỀU SẢN PHẨM

DANH BẠ PHONG PHÚ

Đa dạng hàng trăm ngàn thuốc

CÁC THƯƠNG HIỆU NỔI TIẾNG

ĐỊA CHỈ NHÀ THUỐC

Chi tiết từng ngõ, phố, quận, huyện

TIN TỨC CẬP NHẬT

TIN SỨC KHỎE HỮU ÍCH

Các tin y tế cập nhật liên tục

HỖ TRỢ NHANH CHÓNG

HỖ TRỢ NHANH CHÓNG

Tư vẫn miễn phí, nhiệt tình

Giá Thuốc www.giathuoc.vn Hà Nội, Việt Nam 123 ABC VN-HN 10000 VN ‎0912121212